Nguyên nhân gây ra suy tim là gì ?

0
421

Khi trái tim mệt mỏi, hoạt động bơm của tim trở nên yếu đi, máu lưu thông qua tim cũng như khắp cơ thể với tốc độ chậm hơn và ứ đọng lại, dịch từ các mạch máu thoát ra ngoài, tích tụ lại ở phổi (chèn ép phổi gây ho, khó thở, thở hụt hơi khi gắng sức hoặc khi nằm); ở chi gây phù ở bàn chân, cẳng chân; toàn thân mệt mỏi. Đó chính là tình trạng suy tim…

Suy tim, còn gọi là suy tim sung huyết (CHF), có nghĩa là tim không thể bơm đủ máu để đáp ứng nhu cầu của cơ thể. Theo thời gian, vấn đề như động mạch bị thu hẹp (bệnh động mạch vành) hoặc huyết áp cao dần dần làm cho tim quá yếu hoặc xơ cứng để bơm hiệu quả.

Không thể đảo ngược nhiều vấn đề dẫn đến suy tim, nhưng thường có thể điều trị được với kết quả tốt. Thuốc có thể cải thiện các dấu hiệu và triệu chứng của suy tim. Thay đổi lối sống, chẳng hạn như tập thể dục, giảm lượng muối trong chế độ ăn uống, quản lý căng thẳng, điều trị trầm cảm và đặc biệt là giảm số cân vượt mức có thể cải thiện chất lượng sống.

Cách tốt nhất để ngăn ngừa suy tim là kiểm soát các yếu tố nguy cơ và điều kiện gây suy tim, như bệnh động mạch vành, huyết áp cao, cholesterol cao, tiểu đường hay béo phì.

1, Các triệu chứng

Suy tim có thể mãn tính hoặc cấp tính, có nghĩa là tình trạng bắt đầu đột ngột.

+ Các triệu chứng suy tim mãn tính

Khó thở khi gắng sức hoặc khi nằm xuống. Mệt mỏi và yếu. Sưng (phù) ở chân, mắt cá chân và bàn chân. Nhịp tim nhanh hoặc nhịp tim không đều. Giảm khả năng gắng sức. Ho dai dẳng hoặc thở khò khè có đờm màu trắng nhuốm máu hoặc màu hồng. Cổ trướng. Tăng cân đột ngột do giữ nước. Ít thèm ăn và buồn nôn. Khó tập trung hay giảm tỉnh táo.

Các triệu chứng suy tim cấp tính

 Các triệu chứng tương tự như của suy tim mãn tính, nhưng nghiêm trọng hơn và bắt đầu hoặc bất ngờ trầm trọng. Dịch tích tụ đột ngột. Nhịp tim nhanh hoặc không đều (đánh trống ngực). Khó thở đột ngột và ho ra dịch màu hồng. Đau ngực, nếu suy tim là do cơn đau tim. Khám bác sĩ nếu gặp bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng liên quan đến suy tim.

Chúng bao gồm: Đau ngực. Mệt mỏi và yếu. Nhịp tim nhanh hoặc không đều. Khó thở khi gắng sức hoặc khi nằm xuống. Giảm khả năng gắng sức. Ho dai dẳng hoặc thở khò khè có đờm trắng nhuốm máu hoặc màu hồng. Sưng phù ở bụng, chân, mắt cá chân và bàn chân. Khó tập trung hay giảm tỉnh táo.

Trước tiên, có thể đến phòng cấp cứu sau khi các triệu chứng xấu đi. Các vấn đề về tim và phổi khác có thể gây ra các triệu chứng tương tự như suy tim.

 Nếu có chẩn đoán bệnh tim, và nếu có các triệu chứng đột nhiên trở nên tồi tệ hơn hoặc phát triển dấu hiệu hoặc triệu chứng mới, có thể có nghĩa là suy tim trở nên tệ hơn hoặc không đáp ứng với điều trị. Liên hệ với bác sĩ ngay.

2, Nguyên nhân

Suy tim thường phát triển sau khi bị các bệnh lý về tim khác đã bị hư hỏng hoặc suy yếu. Theo thời gian, tim không còn có thể theo kịp với nhu cầu bơm máu bình thường cho phần còn lại của cơ thể. Các buồng tâm thất có thể trở nên cứng và không làm đúng cách giữa các nhịp đập. Ngoài ra, cơ tim có thể suy yếu, và tâm thất giãn ra đến điểm tim không thể bơm máu hiệu quả khắp cơ thể. Thuật ngữ “suy tim sung huyết” đến từ ứ máu gan, bụng, chi dưới và phổi.

Suy tim có thể liên quan đến phía bên trái, bên phải hoặc cả hai của tim. Thông thường, suy tim bắt đầu với phía bên trái – đặc biệt là tâm thất trái.

Bất cứ các điều kiện sau đây có thể thiệt hại hoặc làm suy yếu tim và có thể gây suy tim. Một số có thể có mặt mà không biết nó:

+ Bệnh động mạch vành và đau tim. Bệnh động mạch vành là dạng phổ biến nhất của bệnh tim và gây ra suy tim phổ biến nhất. Theo thời gian, các động mạch cung cấp máu cho cơ tim bị thu hẹp từ sự tích tụ của cholesterol, quá trình gọi là xơ vữa động mạch. Máu di chuyển từ từ qua các động mạch bị thu hẹp, một số khu vực cơ tim yếu và thiếu máu giàu oxy mãn tính. Trong một số trường hợp, lượng máu đến cơ là vừa đủ để giữ cho cơ vẫn còn sống nhưng không hoạt động tốt. Một cơn đau tim xảy ra nếu mảng bám hình thành bởi các vỡ mảng cholesterol trong động mạch. Điều này gây ra một cục máu đông chặn lưu lượng máu đến cơ tim, làm suy yếu khả năng bơm của tim.

 + Tăng huyết áp. Huyết áp là lực bơm máu của tim qua động mạch. Nếu huyết áp cao, tim phải làm việc chăm chỉ hơn để lưu thông máu trong cơ thể. Theo thời gian, cơ tim có thể trở nên dày hơn để bù đắp cho việc phải làm thêm. Cuối cùng, cơ tim có thể trở thành hoặc là quá cứng hoặc quá yếu để có hiệu quả bơm máu.

 + Bệnh van tim. Các van tim giữ cho máu chảy qua tim theo hướng phù hợp. Van bị hư hỏng do một khuyết tật tim, bệnh động mạch vành hoặc bệnh tim, tim làm việc khó khăn hơn để giữ cho máu chảy đúng hướng. Theo thời gian, công việc này có thể làm suy yếu tim thêm.

 + Thiệt hại cơ tim. Nhiều nguyên nhân gây tổn thương cơ tim, cũng gọi là bệnh cơ tim, bao gồm nhiễm trùng, lạm dụng rượu và ảnh hưởng độc hại của các loại thuốc như cocaine hay một số loại thuốc được sử dụng cho hóa trị. Ngoài ra, bệnh toàn thân, chẳng hạn như lupus, hoặc các vấn đề về tuyến giáp có thể gây hại cơ tim.

+  Viêm cơ tim. Viêm cơ tim là tình trạng viêm của cơ tim. Phổ biến nhất là do virus gây ra và có thể dẫn đến suy tim trái.

+  Khuyết tật tim khi sinh (dị tật tim bẩm sinh). Nếu tim và các buồng tim hoặc các van của nó không được thành lập chính xác, các bộ phận khỏe mạnh của tim phải làm việc chăm chỉ hơn để bơm máu, do đó có thể dẫn đến suy tim.

 + Nhịp tim bất thường (loạn nhịp tim). Nhịp tim bất thường có thể gây đau tim. Đập quá nhanh, điều này tạo ra thêm công việc cho tim. Theo thời gian, tim có thể suy yếu, dẫn đến suy tim. Nhịp tim chậm có thể làm tim bơm đủ máu ra cơ thể giảm và cũng có thể dẫn đến suy tim.

 + Các bệnh khác. Bệnh mãn tính như tiểu đường, thiếu máu nặng, cường giáp, suy giáp, khí phế thũng, lupus, hemochromatosis và tích tụ của protein trong cơ (amyloidosis) cũng có thể đóng góp vào suy tim. Nguyên nhân của suy tim cấp tính bao gồm virus tấn công cơ tim, nhiễm trùng nặng, phản ứng dị ứng, các cục máu đông trong phổi, việc sử dụng một số thuốc hay bệnh tật có ảnh hưởng đến toàn bộ cơ thể.

3, Các biến chứng

+ Nếu có suy tim, triển vọng phụ thuộc vào nguyên nhân và mức độ nghiêm trọng, sức khỏe tổng thể và các yếu tố khác như tuổi. Các biến chứng có thể bao gồm:

Tổn thương hay suy thận. Suy tim có thể làm giảm lưu lượng máu đến thận, cuối cùng có thể gây suy thận nếu không chữa trị. Thận bị tổn thương do suy tim có thể yêu cầu lọc máu để điều trị.

Vấn đề van tim. Các van tim, giữ cho máu chảy theo hướng phù hợp qua tim, có thể bị hư hỏng từ ứ dịch và máu do suy tim.

 + Tổn thương gan. Suy tim có thể dẫn đến sự tích tụ dịch, sẽ tạo áp lực quá nhiều vào gan. Ứ dịch có thể dẫn đến sẹo, làm khó hơn cho gan hoạt động tốt.

 + Đau tim và đột quỵ. Vì máu chảy qua tim trong suy tim chậm hơn so với tim bình thường, nhiều khả năng sẽ phát triển các cục máu đông, có thể làm tăng nguy cơ bị đau tim hoặc đột quỵ.

 + Một số triệu chứng và chức năng tim sẽ được cải thiện với điều trị thích hợp. Tuy nhiên, suy tim có thể đe dọa tính mạng. Nó có thể dẫn đến đột tử. Những người bị suy tim có thể có các triệu chứng nghiêm trọng, và một số có thể yêu cầu cấy ghép tim hoặc hỗ trợ với một thiết bị tim nhân tạo.

Theo Anh Khoa

Đặt câu hỏi hoặc ý kiến bình luận

avatar